Thứ Sáu, 9 tháng 11, 2007

nhung2

Tôi ở lại nhà Tiến Béo chơi đến tối. Con bé làm cơm rất ngon, nó làm chả cuốn lá lốt, rau muống luộc, nước rau có sấu, chấm tương. Tôi ăn no nê. Nhung biết tôi thích ăn cơm với món như vậy. Tối tôi cho nó đi ăn chè thập cẩm. Tôi gọi chè, còn nó chọn cái chỗ ngồi xa nhất. Chúng tôi nhẩn nha từng thìa chè. Nó hỏi

- Chú ơi ! sao lại có thuốc phiện nhỉ ?

À ! chú kể chuyện cổ tích cho cháu nghe về cây thuốc phiện nhé

Nhung gật đầu, mắt nó hớn hở ngước nhìn tôi chờ đợi. Tôi châm điếu thuốc và kể

Ngày xưa, trên mạn ngược, ở một vùng núi cao có bản người Mèo sinh sống đã lâu đời. Trong bản có một cô gái hiền lành, chăm chỉ , nết na. Cô làm nương, dệt vải, đi rừng không nề hà bất cứ việc gì. Nhưng nhà cô vẫn nghèo. Cô gái không buồn vì điều đó, cô vẫn hăng say làm việc và ca hát. Thế rồi cô và một chàng trai trong bản yêu nhau. Chàng trai là con của một nhà giàu, nhà chàng to làm bằng những cây lim một người ôm. Trâu, lợn nhiều vô kể. Có gia nhân, đầy tớ phục dịch. Chàng trai yêu tiếng hát của cô gái những đêm trăng bên bờ suối. Họ hẹn thề đến mùa trăng tới sẽ nên vợ, nên chồng. Thế rồi do sự bắt ép của gia đình, chàng trai đã lấy một cô gái nhà giàu ở thũng lũng ben kia. Cách bản hai ngày đường.

Hôm chàng đi đón dâu, cô gái trèo lên đỉnh núi cao đứng nhìn đoàn người ngựa tưng bừng. Nàng ngửa mặt cầu

- Giàng ơi, nếu con chết, hãy cho con được làm thứ gì mà người ta không bao giờ bỏ được.

Dứt lời cầu, nàng lao vào vách đá tự vẫn.

Về sau ở chung quanh chỗ nàng chết, người ta thấy mọc lên một loại hoa cánh mong manh màu tím , pha sắc trắng lẫn hồng rất lung linh. Khi kết thành những quả tròn bằng ngón tay cái. Có người bấm móng tay vào đó thấy ứa ra dòng nhựa, để khô nó có mầu nâu thẫm. Họ truyền nhau đấy là máu của nàng. Kẻ làm thuốc đem bề pah với rượu uống. Uống xong thấy tinh thần sảng khaói, cơ thể khoẻ mạnh. Cho vào ống điếu hút vị khói đậm đà, ngầy ngậy. Lát sau lan khắp cơ thể, khoan khoái vô cùng. Nhưng dùng nhiều sẽ thành nghiện. Đó chính là cây thuốc phiện cháu ạ.

Chúng tôi ăn hết chè , trên đường về Nhung hỏi

- Chú có người yêu rồi phải không?

Tôi gật đầu.

Nhung vuốt tóc , ánh mắt nó tinh nghịch

- Cháu thấy chú bỏ áo trong quần, cháu biết ngay.

Con bé tinh. Không biết lớn lên nó sẽ thế nào, nhưng nó sẽ là một cô gái đẹp khiến khối anh mê tít. Ước gì mai này nó sẽ lấy được một anh chồng tử tế, biết thông cảm cho hoàn cảnh của nó. Tôi thầm cầu vậy.

Tôi tâm sự nhiều với Tiến Béo, nhưng tôi không kể những ước mơ vậy. Gã sẽ bảo là hão huyền, gã sẽ chửi một tràng. Ví dụ chuyện này gã sẽ nói

- Làm đeo gì có người tử tế, xã hội bây giờ là sòng phẳng. Lấy nahu cũng phải dòm nhà nhau thế nào. Chỉ có tao còn trẻ, lúc chiến tranh mới có chuyện một túp lều tranh hai trái tim vàng mà thôi.

Nhiều khi tôi không ưa gã, bởi vì gã hay nói đúng những cái kết mà tôi lại nghĩ nó tốt đẹp.



Nửa tháng sau tôi qua nhà Tiến Béo, buổi trưa thường ít khách hút. Đẩy cửa vào nhà, không thấy ai. Thò đầu lên gác xép

Tiến béo nằm ngửa, quần đùi kéo xuống quá đầu gối. Nhung ngồi bên cạnh, tay nó xoa cái kia của gã. Thấy tôi Tiến béo giật phắt người, tay kéo quần đùi của gã lên, tay rút khỏi áo Nhung.

Mặt Tiến béo tái nhợt, còn Nhung vẫn cười, nó chào tôi làm tôi thoát ra khỏi cảm giác sững sờ. Tiến Béo bảo Nhung

- Xuống nhà rửa bát đi.

Tôi ngồi im , không biết nói gì, mà tôi cũng chẳng nghĩ gì để mà nói.

Tiến pha trà, hắn nhìn vào mặt tôi nói

- Anh lâu cũng nhớ, máy không dậy nhưng có tay đàn bà chạm vào cũng thích. Chú yên tâm, anh không thịt được nó đâu, liệt thật rồi. Để phần ngon nhất cho chú đấy.

Tôi rót trà ra uống từng ngụm nhỏ. Trong đầu tôi xáo trộn bởi nhiều ý nghĩ dấy lên. Một lát coi như không có chuyện gì đã thấy, tôi hỏi chuyện làm ăn của gã. Đến chiều thì mọi việc ban trưa đã như không có. Ba chúng tôi ngồi vui vẻ ăn cơm, xem vô tuyến và nói chuyện về vụ ầm ĩ của bọn trẻ con bị mấy thằng thần kinh dùng dao lam rạch mặt, cả Hà Nội loạn lên vì chuyện này.Ở đâu cũng bàn tán xôn xao.

Vài hôm sau tôi mới hỏi Nhung, lúc cháu đang giặt quần áo ngoài sân.

- Buổi trưa hôm nọ cháu làm gì cho bác Tiến đấy

Nhung nhoẻn miệng cười

- Cháu làm ca ve đấy, bác ý bảo làm như thế là làm ca ve. Chỉ xoa chim cho bác ấy thôi, bác ấy sẽ hết nhức đầu. Xong bác thưởng cho năm chục nghìn.

Mày làm nhiều chưa?

Mọi khi làm buổi đêm, trước lúc bác ấy ngủ. Bác ấy còn xoa lai cho cháu để cháu khỏi bị nhức đầu.

Nhung gồng người vắt quần áo để phơi lên dây, nó vô tư kể

- Chú biết không, làm ca ve là được nhiều tiền lắm ấy. Người ta bảo chị Liễu đi làm ca ve, mua cả xe máy. Làm ca ve dễ không mà lại có nhiều tiền chú nhỉ. Hay là chú biết chỗ nào nhận làm ca ve để cháu tranh thủ đi buổi sáng. Cháu muốn có tiền gửi cho bố cháu đưa công an, bố cháu sẽ được chữa bệnh ở bệnh viện.

Tôi sẽ đi khỏi đây, mặc mẹ cái xóm bụi này. Mọi thứ đã quá sự suy nghĩ của tôi. Đằng nào cũng không mua bán, mánh lới gì nữa. Tôi đã xin được việc làm rồi. Cô người yêu tôi sẽ nghĩ gì khi biết tôi ra vào những nơi thế này. Tôi đã tạo công việc cho một người lớn, tìm chỗ dung thân cho một đứa nhỏ. Được tiếng tốt và lại kiếm được chút tiền sống qua ngày. Giờ thì trả lại cho đời sắp đặt.



Con người đa cảm trong tôi ăn năn, dằn vặt thôi thúc tôi đến suy nghĩ tìm chỗ khác cho con bé. Nhưng tìm ở đâu, ai sẽ nhận nó, người đàng hoàng ư? Tiến béo đã nói rồi, người đàng hoàng có nhận o sin thì cũng phải có nguồn gốc. Một đứa con gái tông tích như nó chẳng may hám lợi mà bê cái gì thì tóm tóc ai. Mà thôi, Tiến Béo đã làm thế thì gã sẽ không đuổi con bé đi, gã sẽ nuôi nấng nó tử tế hơn. Nó có mái nhà để trú mưa gió không phải nằm ngoài bốt điện, không phải bị bệnh tật hành hạ lúc thân cô, có cơm ăn, áo mặc. Nó không chết, và thân phận như nó sống như vậy là tốt rồi, danh dự là cái quái gì trong cái số phận như vậy. Mấy năm nữa nó lớn, tự nó biết nhận thức và kiếm cuộc sống cho bản thân.

Tôi phải rời khỏi nơi đây, đã đến lúc tôi tìm kiếm một cuộc sống đàng hoàng như các bạn và mọi người tử tế. Cũng như tôi đang nung nấu làm sao để bịa cho câu chuyện này một cái kết cục có hậu nhu chuyện cổ tích Lọ Lem. Định viết rằng mình đưa Nhung về nhà mình để nuôi dậy nó nên người, hay gửi nó ở một nhà người quen tử tế. Nó có cuộc sống yên bình đến tuổi lấy chồng. Và gặp được một người chồng thật thà, nhân hậu.

Nhưng dạo này tôi đang thua bạc, tuần trước tôi phải bán cái xe Dylan mới mua. Định để đi Tết, bây giờ vẫn còn nợ mấy chục triệu. Vào lúc tâm trạng bức bối thế này tôi không bịa được cái chuyện nhân ái mang tính cổ tích được.

Tôi chuồn biệt tích khỏi xóm bụi, khi đã giao lại cho Tiến Béo một vài mối quan hệ ra tiền.

- Ông tử tế với nó, tôi nhờ ông đấy

Đó là sự giúp đỡ cuối cùng tôi làm cho Nhung, một câu nói mà tâm tôi biết, chả hy vọng gì.

Hà Nội tháng 12-2006





Nhung

Đây là một chuyện bịa đặt mà tôi tự nghĩ ra, cốt để tiêu sầu trong đêm đông giá lạnh. Lúc giấc ngủ chưa về, hầu hết những gì tôi viết đều là tưởng tượng. Từ trước đến nay ở bất kỳ đâu tất cả đều là sự sáng tạo ngẫu hứng. Tôi có thể là gã thợ cơ khí quèn, hay một tên lưu manh mạt hạt, nhưng không bao giờ tôi là một người viết. Bạn đừng nghĩ tôi là một người viết truyện, như thế sẽ ảnh hưởng xấu cho những người viết chuyên nghiệp bằng trái tim muốn dâng cho đời tình yêu, tính nhân bản hay tư tưởng định hướng con người đến cuộc sống tốt đẹp. Và điều cuối cùng tôi khuyên các bạn hãy cho những gì tôi viết chỉ là phút tếu táo giải sầu của một kẻ rách việc, nhàn rỗi.


Năm tôi tròn 28 tuổi. Bước chân ra khỏi nhà tù, tôi là kẻ thất nghiệp. Tuy nhiên tôi không khó khăn lắm về tiền bạc. Những kỹ năng kiếm tiền của một kẻ được đào tạo từ đường phố và nhà tù suốt hơn mười năm, đủ để tôi lúc bấn xoay sở ở đâu đó món tiền còm tiêu vặt. Tôi có uy tín để móc nối những vụ làm ăn mờ ám. Ví dụ tôi đảm bảo cho một kẻ này với một kẻ khác, nếu chúng hợp tác làm một vụ nào đấy. Tiền nong khi xong xuôi sẽ được chia đều cho nhau, không đứa nào quỵt đứa nào. Và với công việc như vậy thì thời gian của tôi khá dư dật, tôi thưòng lang thang, soi mói và đánh hơi mọi ngóc ngách để tìm cơ hội cho mình tức cho cả luôn đồng bọn.

Hẳn các bạn nghe nhiều đến xóm bụi, những xóm bụi nằm lung tung trong khắp thành phố này, xóm bụi có điểm giống nhau trên giấy tờ của phòng nhà đất là các nhà có người ở đều không có giấy chứng nhận quyền sở hữu hợp pháp, trên hồ sơ quản lý nhân khẩu của công an thì dân chúng đều không có đăng ký hộ tịch gốc. Toàn cư ngụ, tạm trú ở khắp nơi đổ về. Và trong mắt những người đọc như các bạn thì đấy là nơi cặn bã, đáng khinh và đáng sợ.

Cái xóm bụi tôi kể nằm ven sông Hồng, từ lúc nàh nước nắn dòng chảy, bờ bên Hà Nội không còn bị sạt lở. rẻo đất sát sông trước kia chả ai dám ở, bắt đầu mọc lên những túp lều bằng tre nứa. Thời gian sau những túp lều đó được mua đi bán lại nhiều lần, người mới đến sửa sang, xây cất đã thành một khu xóm lối đi đổ bê tông và nhà mái bằng, mái ngói. Do tính chất tự phát của chúng mà lối đi lằng nhằng như mê trận. Người lạ loanh quanh một hồi không tinh chẳng tìm thấy lối ra, mà có khi cái lối mà bạn tưởng là đường đi ra lại dẫn bạn vào một căn nhà cửa mở toang hoác có một bà già đang nằm rít thuốc lá, hai ba cô gái mắt thâm quầng đang cố trát hàng milinet mỹ phẩm rẻ tiền lên mặt. Hay lối di dẫn đến một góc sân mà có ba bốn nam thanh niên gầy gò, xám ngoét đang đun thứ nước đen ngòm trên cái thìa inox. xi lanh vương vãi quanh họ. Lúc ấy bạn sẽ gặp những cái nhìn dò xét đầy tức giận, nếu bạn không có lý do vừa tai họ thì hậu quả khó hình dung.


Tôi ở trong một ổ thuốc phiện, cạnh một ổ mại dâm và một xới bạc. Chủ ổ thuốc phiện là một gã đàn ông trạc năm mươi tuổi, béo phệ do bệnh phù chứ không phải là bia. Trên làn da trắng xanh vì cớm nắng, gã xăm một con đàn bà đang quỳ gối trước lưỡi kiếm treo lơ lửng, dưới chân con đàn bà là dòng chữ Hận Kẻ Bạc Tình. Hình xăm được đặt trên bộ ngực bầy nhầy của gã. Mảnh đất gã ở là thành tích nhảy dù trong những năm 80, nhờ cái mác thương binh mà gã lấn được hơn trăm mét. Già nửa số đất đó gã cho thuê. Hồi gặp nhau, gã tâm sự một đêm dài với tôi, qua lời kể của gã thì gã nghiện vì vết thương trong chiến tranh. Ở quân y người ta tiêm Moc-phin giảm đau thường xuyên cho gã. Sau này xuất viện, gã phải tìm đến thuốc phiện để quên cái đau. Tuy có người cho rằng gã lấy phải con vợ dâm quá, phải dùng thuốc phiện để tăng lực đủ đô chiều vợ.
Nguyên nhân chính tôi không rõ, nhưng việc gã là thương binh thì tôi đã nhìn thấy sổ, vợ gã dâm thì tôi khối lần thấy mụ ấy đưa trai tơ khoẻ mạnh vào phòng trọ sát cầu Long Biên. Nhưng thôi , dù sao gã cũng đã nghiện, và người nghiện nào cũng có lý do.

Tôi với gã là cố nhân, trong một lần chạy trốn sự truy đuổi của công an, tôi lao bừa vào nhà gã. Nhảy tót lên gác xép, mặc dù không quen biết, nhưng gã thản nhiên giải chiếu, đặt bàn đèn, khay hút, dọc tẩu giữa nhà nằm ềnh ra. Công an đến nơi hỏi thì gã lắc đầu, bảo gã dọn đồ đi thì gã lầu nhầu là vết thuơng giở trời, đau không chịu nổi. Gã vén tóc trên đầu chỉ vào mảng sọ trắng hếu to bằng miệng bát ăn cơm nói. Chỗ này là đạn pháo hớt, giờ lắp Mi - Ca đấy. Ấn thử xem, tất nhiên công an chả ấn vào đấy làm gì, nhỡ gã quay ra thì có tội với người đã hy sinh xương máu cho tổ quốc thống nhất.

Khi công an bỏ đi, gã bê đồ nghề lên gác xép gọi tôi ra. Đêm ấy bên ngọn đèn dầu lạc lung linh, huyền ảo như đêm Ba-Tư của nàng Seherat. Một kẻ năm mươi tuổi và kẻ hai mốt nhận nhau làm anh em. Buổi sáng hôm đó gã vừa ra toà bỏ vợ, hai đứa con , một trai, một gái được toà cho theo mẹ vốn là mụ buôn hoa quả ở chợ Long Biên, trong sự cô đơn đáng sợ, gã cứu tôi để mong có được tri âm chứ chưa chắc là do lòng tốt. Sau bận ấy tôi qua lại nhà gã thường xuyên, lúc đầu gã hút cũng ít. Tiền bán đồ đạc trong nhà và tiền thuê trọ khiến gã không lo lắng lắm. Nhưng khi tôi đi tù về thì gã đã khánh kiệt hoàn toàn. Anh sắp chết rồi em ạ, gã nói nghẹn ngào lúc buổi đầu tái ngộ. Cạo quèn quẹt để vét chút sái trong cái tẩu thuốc phiện, gã hoà nước uống. Thế là gã đi đến đoạn cuối của con đường ma tuý, không còn tiền mua thuốc hút nữa. Nhà gã xác xơ mạng nhện giăng đầy, chỉ có cái ban thờ, ngọn đèn đỏ 110 và chăn chiếu góc nhà, giuờng và xong nồi cũng không có nốt. Tôi rủ gã ra đường, lên trên phố. Mua cho cho gã bộ ấm chén, trà, phích nước, đồ ăn và cái không thể thiếu là 20 viên thuốc phiện nhỏ bằng nửa hạt đậu xanh. Gã cảm động lắm, trong mắt gã bừng lên niềm vui như đã tìm được chỗ cứu rồi những ngày còn laii ở cuộc đời đã hoang phế như ngọn nết sắp tắt của gã.

Cả đêm bên bàn đèn gã vừa tiêm thuốc hút vừa kể cho tôi nghe qunãg đời của gã những năm tôi vắng mặt, tôi kể chuyện đời tôi vừa trải qua. Hết chuyện riêng tư, thuốc phiện hút đến sái ba, sái tư chả còn khói nữa. Gã đặt cái dọc tẩu xuống, ngửa mặt vắt tay lên trán nhìn trần thở dài. Ấy là gã đang lo đến ngày mai miếng ăn ở đâu, thuốc phiện ở đâu, gã thở những tiếng não nùng. Một căn nhà hoang ẩm mốc, một kẻ bệnh hoạn nhợt như lợn đông lạnh nằm chờ kết cục bi thảm. Tôi chạnh lòng, dẫu sao gã cũng là cố nhân.

Tôi là người đa cảm. Sở dĩ tôi nói vậy vì khiêm tốn không muốn nhận mình là người tốt với cố nhân. Sau khi đắn đó, tôi đưa ra lời đề nghị giúp đỡ. Tôi sẽ cho gã vay một khoản tiền mua 1,5klg thuốc phiện. Thật sự là tôi chỉ có ngần đó. 200usd còn trong người là tiền môi giới hoa hồng được hưởng trong vụ đòi nợ thuê. Một kẻ hiểu biết như tôi thì không thể để gã hút hết 1,5klg tương đương với 200usd thời ấy ( ở thời điểm của đầu năm 2007 này thì một klg thuốc phiện loại ngon là 100 triệu). Phải để sinh lời, để gã trồng trọt, canh tác như tôi trồng rau trong tù vậy. Tôi bày cho gã phương án mở tiệm hút, bán cho khách. Tôi dẫn gã đến nơi người bán giới thiệu. Hướng dẫn cho gã cách chọn loại hàng chất lượng, đặc điểm của từng loại hàng Tây Bắc, Hạ Lào và kỹ thuật pha chế, nấu lọc. Hoá ra gã từ trước đến giờ chỉ biết hút chứ không hiểu gì về công đoạn tự nhựa cây đến điếu thuốc ra sao. Mà làm chủ ổ hút thì buộc phải biết để mà làm mới có lãi. Mọi cái chuẩn bị đã xong, thuốc phiện đã thành những viên nhỏ chất đầy trong lọ, tôi bảo gã tung 200 điếu mời các con nghiện quen biết , khai trương mở lò.

Nhoằng cái vài tháng, da dẻ gã hồng hào, phong độ hoạt bát. Nói năng đĩnh đạc. Gã đã thành ông chủ, có người làm thuê, káhch khứa ra vào tấp nập. Nghề này phất nhanh do song hành với sự nguy hiểm chwú không phải tài cán gì, ai liều thì đều làm được tất. Có điều tồn tại bao lâu mới là giỏi thôi. Gã sắp vô tuyến, dàn loa, tủ lạnh. giường nệm. Và một đứa con gái hơn hai mươi tuổi khá xinh, tuy nghiện nhưng đủ thuốc nom thân hình vẫn nuột nà như ai.

Gã trả tôi món nợ 200 usd. Gã có một sấp đấy, gã giàu hơn tôi nhiều rồi. Trong khi tôi vẫn là kẻ vất vưởng. Tôi đến nhà gã chơi hàng tháng, ở đây tôi được phục dịch chu đáo. Được tôn trọng hết mức mà gia chủ có được, hơn nữa khách khứa ra vào thường xuyên, nhiều thông tin hay nhiều cơ hội đánh quả lẻ đủ tiêu rủng rỉnh. Ví dụ cho vay tiền rồi thu lại bằng đồ ăn cắp, độ ấy bọn nghiện ăn cắp đèn pha và mác ô tô. Tôi thu về và cho một gã nghiện ở đấy mang xuống chợ Giời bán. Thành ra tôi có cửa kiếm không nhiều lắm để làm giàu, nhưng cũng khá để tiêu thoải mái.


Năm 18 tuổi, một vị trưởng bối trong giang hồ đã dạy tôi rằng. Bất cứ con đường nào đều có lối ra trừ thuốc phiện. Tâm niệm lời dậy áy, tôi được nhiều sự khâm phục của đồng bọn. Chúng gọi đấy là bản lĩnh và nghị lực. Cờ bạc và đĩ điếm năm thì mười hoạ tôi tham gia để hoà nhập với quần chúng. Tôi sống khá lành mạnh và thanh bạch, không có những thú ăn chơi trác táng như các chiến hữu của mình. Cái này tôi phải cám ơn những cuốn sách mà tôi hay đọc từ nhỏ đã rèn luyện cho tôi. Phong cách , lời nói và cư xử của tôi khiến dân xóm bụi nhiều kẻ hoài nghi. Bởi nó mang phảng phất dáng dấp của một người có ăn học và dạy bảo hơi hướng nền nếp. Dẫu sao tôi cũng quan tâm , thân ái và giúp đỡ mọi người xung quanh. Tôi có nhiều vết sẹo do những trận ẩu đả, đâm chém. Nhưng không có hình xăm nào trên người để chứng tỏ mình là dân giang hồ. Lời ăn, tiếng nói tôi cũng nhẹ nhàng, không dùng những từ lóng thể hiện chất chác lưu manh. Quần áo tươm tất. Đôi khi trông tôi lạc lõng giữa cái xóm bụi ven sông này. Tôi sống thoải mái không bị sức ép hay cơn cớ nào thôi thúc. Hàng ngày tôi la cà quanh xóm giao du với tất cả từ trẻ con, bà già, cô gái điếm, anh xích lô, xe ôm, cửu vạn..

Ở đầu xóm có hàng cơm bình dân, bà chủ quán có hai cô con gái. Quán của bà đông khách vì hầu hết dân xóm bụi là lưu manh hay lao động thuê. Lưu manh thì lười thổi cơm còn lao động thuê thì không có thời gian. Các món ăn toàn là thứ bèo bọt nhất ngoài chợ được mua gom lại lúc chợ tàn canh nhập nhoạng tối để làm cho khách hôm sau. Món đậu nhồi thịt là thứ thịt bạc nhạc đầu thừa đuôi theo ở sạp bỏ ra, băm vụn với hành nhồi vào đậu dính cả mùn thớt và lông. Cá thì ươn động đũa vào là thịt nát nhoét. Chẳng sao với những cái dạ dày vốn đã quen chinh chiến. Tôi hay ăn ở đấy với món ăn trung thành là rau luộc, trứng luộc , lạc rang. Những món mà bà chủ ít phải gia công chế biến nhất là món an toàn nhất. Đứa con gái lớn của bà chủ đẫ có chồng, còn đứa thứ hai thì chưa. Nó không xinh, không phải vì không ưa nó mà tôi nhận xét những gì không hay cho nó. Mà quả thật nhan sắc nó thuộc loại trung bình. Tên nó là Liễu, một cái tên hay đấy phải không các bạn. Liễu 22 tuổi, nó không phải làm gì, chỉ ăn mặc trau chuốt và nhìn khách xem có thó cái gì của nhà không. Nét mặt nó khinh khỉnh nhìn những thực khách, nhất là mấy tay thanh niên ngoại tỉnh lao động thuê có lời tán tỉnh. Buổi tối có mấy con bạn trên phố xuống chơi với nó, thế là nó có cơ sở để hãnh diện vì mình thuộc lớp người khác so với những người ở xóm bụi này. Nó nói như người có học, thật ra nó chỉ học hết lớp 9. Thế cũng là cao so với dân xóm này. Mẹ nó bảo nó có nhiều tay trên phố, con nhà đàng hoàng lăm le. Ai chứ tôi chả tin, tôi là trai trong lòng phố cổ tôi biết rõ chứ. Bọn kia chắc qua lại vì nghĩ con này muốn trèo cao, dễ làm thịt. Chứ lấy thì còn phải xét nhiều chuyện.

Liễu đánh con bé làm thuê, con bé làm thuê trạc 12 tuổi, gầy gò, đen đáu. Lúc nào cũng lấm láp dầu mơ, than củi. Tóc nó tua tủa như cây chổi rơm quét nhà. Bảo nó mua chai dầu gội đầu nhưng vì lo rủa bát rồi nhặt rau.. nó quên. Buổi chiều Liễu chuẩn bị đi chơi. Không có dầu gội, nó lôi con bé ra đánh. Mà kiểu đánh người của nó nhìn mới lộn ruột. Nó đánh nhưng sợ bẩn tay, nó giơ tay dư dử rồi tìm chỗ nào sạch nhất trên mặt con bé để đập mấy đầu ngón tay vào đấy. Mà chỗ sạch chỉ có lông mày, vì con bé ra mồ hôi dùng tay áo quệt. Lên chỗ đó là sạch nhất. Liễu nhằm vào chỗ đấy đánh, khiến con bé làm thuê không mở mắt ra được, ngã dúi dụi vào quần cô chủ. Sơ bẩn quẩn cô chủ nhảy lên ghế, điên tiết Liễu lấy gót guốc bổ cho mấy cái vào đầu. Mẹ nó nhìn , không can còn đế. Đồ ăn hại, chả tích sự gì, mai đuổi mẹ nó đi.

Bà y tá loay hoay tìm ven để luồn cái kim bướm tiếp nước một lúc chưa xong. Nhìn mũi kim cứ chọc ra chọc vào khiến Tiến Béo sốt ruột, gã cằn nhằn.

- Đưa nó đi viện thôi, nó chết ở đây thì rách việc cho mình. Sợ thì chả sợ gì đâu, ở cái xóm bụi này mạng người như rác, chốc lại vài thằng sốc thuốc chết, vài thằng vài con tự tử nhảy xuống sông, uống thuốc chuột, thắt cổ, không thì đâm nhau tòi phèo. Công an nó quan tâm làm gì, nhưng mà cửa nhà ai nhà ấy phải lo tiền ma chay.

Tôi cũng thấy ngài ngại, bảo bà y tá đưa kim để tôi tìm ven cho con bé. Cánh tay của nó khẳng khiu, chắc máu chảy trong mạch ít quá chẳng dễ tìm ven. Đưa nhẹ kim qua làn da vào thịt, thấy cảm giác hẫng ở đầu kim. Tôi giữ nguyên tay kim vài giây, thấy máu chảy ngược vào ông truyền. Bà y tá thở phào

- Được rồi, để cô làm tiếp.

Được nửa chai nước thì nó tỉnh dậy, tôi nhờ bà y tá bón cháo cho nó ăn. Qua một đêm truyền nước, ăn cháo và tiêm thuốc kháng sinh. Con bé đã hạ sốt. Tôi bảo nó cứ nằm ở đây tôi sẽ mang cơm cho nó.


Tiến Béo có vẻ không vừa lòng, gã ngồi cạnh con bồ trẻ. Nét mặt cả hai có vẻ đủ thuốc, phởn phơ. Thấy tôi gã nói

- Thế để nó ở đây à ?

Con bồ gã giọng bả lả, nửa đùa nửa thật

- Nuôi lớn tí là thịt được đấy, con này có ăn uống tử tế một thời gian là ngon lành đấy. Coi như là chăm rau sạch.

Tôi trình bày

- Thôi nuôi nó đáng bao nhiêu, ông để nó ở đây cơm nước, giặt giũ quét dọn nhà cửa. Coi như ông giúp tôi.

Tiến Béo đồng ý một cách bất dắc dĩ, nhà hắn thừa chỗ ở lại thiếu người làm lặt vặt. Gã có nuôi một thằng trong nhà, thằng này phụ việc bán thuốc phiện và trông công an. Ngiện oặt, dúng tay vào nước như con mèo. Bọn nghiện ra vào nhiều xả rác bừa bãi, vỏ trái cây, bao thuốc , vỏ bánh lung tung. Con bé chăm chỉ dọn dẹp, phơi phóng, giạt giũ chăn chiếu. Nhà hắn sạch sẽ, quang đãng trông thấy. Tôi cũng thấy yên tâm về số phận tạm thời của nó. Thỉnh thoảng ngồi rỗi nó hay hỏi chuyện tôi.

Không thấy con bồ Tiến béo mấy hôm, tôi hỏi gã thì biết gã tống cổ rồi. Gã lầu bầu chửi

- Đm con phò, mình đi vắng nó ngủ luôn với thằng Sơn chột trong nhà mình, về thấy hai đứa vẫn trần như nhộng đang ôm nhau. No cơm, ngấy cật. Tầm này cho ra đứng đường mà đón khách. Tao cho nó cút rồi. Vả lại - Gã tần ngần nhìn xuống dưới bụng mình - tao hết đạn thật rồi, đeo lên được nữa. Nuôi nó cũng thành báo cô, tốn thuốc, trồng ddược đâu mà bao nó.

Con bé đã lại người, việc ở nhà Tiến Béo không nhiều và ngập ngụa như quán cơm. Trông nó đã có da thịt, tóc tai gọn gàng. Nó tên là Nhung, lúc buổi trưa hè yên ắng. Nhung mang cốc trà đá cho tôi, tôi ngồi uống dưới gốc ổi, Nhung ngồi bên cạnh. Nó kể

- Cháu vừa đi thăm bố cháu về, bố cháu bị bệnh lao , người gầy , bố cháu nói chuyện cứ thở dốc. Nếu có tiền lót cho giám thị, sẽ được đi chữa bệnh ở bệnh viện. Bố cháu nói là bố cháu nói vậy thôi, con đừng nghĩ, số phận cả. Bố cháu nghe chuyện bảo chú là người tốt. Bố cháu gửi lời cám ơn chú.

Tôi cúi đầu nhìn những viên đá trong cốc trà đang tan, những vệt nước đá trắng toát ra thành vệt len lỏi trong nước trà xanh như một làn mây khói. Lúc nào tôi cúi đầu là lúc tôi đang chiệm nghiệm, nghiền ngẫm về cuộc sống, những điều tôi nghe và trông thấy ở cuộc đời này. Có những bước ngoặt trong đời sẽ làm thay đổi cuộc sống của bạn, tốt hơn hay tồi tệ hơn. Do nhiều nguyên nhân, trong đó có thể là cả định mệnh nữa.

Tôi đưa Nhung đi mua mấy bộ quần áo, nó nhận tự nhiên như tôi là bố nó. Định cho nó ăn bún chả thì nó gạt đi

- Cháu phải về, bác Tiến khó tính lắm. Từ khi cô kai đi bác ấy hay cáu gắt, chửi bới luôn. Chú hay đến nhé, có chú bác ấy vui. Sao dạo này chú không hay đến ở nhà bác Tiến như hồi nọ.

-Chú bận.

Tôi vừa quen với một cô gái sinh viên trường Luật, quả là tôi đang yêu. Triển vọng tình cảm đang diễn tốt đẹp. Cô ta bảo tôi tìm việc làm. Tôi đang ngắm nghía chỗ nào để đi làm, cũng chẳng muốn lông bông giao du như hồi trước nữa.


Khi đưa Nhung về nhà, Tiến Béo đang cởi trần, quần đùi ngồi xem vô tuyến. Gã hỏi chúng tôi đi mua đồ à, rồi bảo Nhung đi giặt cái chiếu, Nhung đi qua gã, gã nhìn vào đôi mông hơi tròn của Nhung. Cái nhìn lạ, tôi thoáng nghĩ xem cái nhìn đó thế nào lại thôi.


nhất định thắng

Bản gốc

[sáng tác năm 1955, đăng trong Giai Phẩm Mùa Xuân 1956]
Tôi ở phố Sinh Từ
Hai người
Một gian nhà chật,
Rất yêu nhau sao cuộc sống không vui ?
Tổ quốc hôm nay
tuy gọi sống hòa bình
Nhưng mới chỉ là trang thứ nhất
Chúng ta còn muôn việc rối tinh...
Chúng ta
Ngày làm việc, đêm thì lo đẫy giấc
Vợ con đau thì rối ruột thuốc men
Khi mảng vui - khi chợt nhớ chợt quên
Trăm cái bận hàng ngày nhay nhắt.
Chúng ta vẫn làm ăn chiu chắt.
Ta biết đâu bên Mỹ miếc tít mù
Chúng còn đương bày kế hại đời ta ?
Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc
Đất hôm nay tầm tã mưa phùn
Bỗng nhói ngang lưng
máu rỏ xuống bùn
Lưng tôi có tên nào chém trộm ?
A ! Cái lưỡi dao cùn !
Không đứt được mà đau !
Chúng định chém tôi làm hai mảnh
Ôi cả nước ! Nếu mà lưng tê lạnh
Hãy nhìn xem: có phi vết dao ?
Không đứt được mà đau !
Lưng Tổ Quốc hôm nay rớm máu
Tôi đã sống rã rời cân não
Quãng thời gian nhưng nhức chuyện đi Nam
Những cơn mưa rơi mãi tối xầm
Họ lếch thếch ôm nhau đi từng mảng
Tôi đã trở nên người ôm giận
Tôi đem thân làm ụ cản đường đi
- Dừng lại !
Đi đâu ?
Làm gì ?
Họ kêu những thiếu tiền, thiếu gạo
Thiếu cha, thiếu Chúa, thiếu vân vân
Có cả anh nam chị nữ kêu buồn
- Ở đây
Khát gió, thèm mây...
Ô hay !
Trời của chúng ta gặp ngày mây rủ ?
Nhưng trời ta sao bỏ nó mà đi ?
Sau đám mây kia
Là cả miền Nam
Sao nỡ tưởng non bồng của Mỹ !
Tôi muốn khóc giữ từng em bé
- Bỏ tôi ư ? - Từng vạt áo - gót chân
Tôi muốn kêu lên - những tiếng cộc cằn...
- Không ! Hãy ở lại !
Mảnh đất ta hôm nay dù tối
Cũng còn hơn
Non bồng Mỹ
Triệu lần...
Mảnh đất dễ mà quên ?
Hỡi bạn đi Nam
Thiếu gì ư sao chẳng nói thật thà ?
Chỉ là:
- Thiếu quả tim bộ óc !
Những lời nói sắp thành nói cục
Nhưng bỗng dưng tôi chỉ khóc mà thôi
Tôi nức nở giữa trời mưa bão.
Họ vẫn ra đi.
- Nhưng sao bước rã rời ?
Sao họ khóc ?
Họ có gì thất vọng ?
Đất níu chân đi,
Gió cản áo quay về
Xa đất Bắc tưởng như rời cõi sống.
Tưởng như đây là phút cuối cùng
Trăng trối lại : - Mỗi lùm cây - Hốc đá
- Mỗi căn vườn - gốc vả - cây sung
Không nói được, chỉ còn nức nở
Trắng con ngươi nhìn lại đất trời
Nhìn cơn nắng lụi, nhìn hạt mưa sa
Nhìn con đường cũ, nhìn ngôi sao mờ
Ôi đất ấy - quên làm sao được ?
Quên sao nơi ấm lạnh ngọt bùi
Hôm nay đây mưa gió dập vùi
- Mưa đổ mãi lên người xa đất Bắc...
Ai dẫn họ đi ?
Ai ?
Dẫn đi đâu ? - Mà họ khóc mãi thôi
Trời vẫn quật muôn vàn tảng gió
Bắc Nam ơi, đứt ruột chia đôi
Tôi cúi xuống - Quỳ xin mưa bão
Chớ đổ thêm lên đầu họ
- Khổ nhiều rồi !
Họ xấu số - chớ hành thêm họ nữa
Vườn tược hoang sơ - cửa nhà vắng chủ
Miền Nam muôn dặm, non nước buồn thương
Họ đã đi nhưng trút lại tâm hồn
Ơi đất Bắc ! Hãy giữ gìn cho họ !
Tôi ở phố Sinh Từ
Những ngày ấy bao nhiêu thương xót
Tôi bước đi
không thấy phố
không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
trên màu cờ đỏ
Gặp em trong mưa
Em đi tìm việc
Mỗi ngày đi lại cúi đầu về
- Anh ạ !
Họ vẫn bảo chờ...
Tôi không gặng hỏi, nói gì ư ?
Trời mưa, trời mưa
Ba tháng rồi
Em đợi
Sống bằng tương lai
Ngày và đêm như lũ trẻ mồ côi
Lũ lượt dắt nhau đi buồn bã
Em đi
trong mưa
cúi đầu
nghiêng vai
Người con gái mới mười chín tuổi
Khổ thân em mưa nắng đi về lủi thủi
Bóng chúng
đè lên
số phận
từng người
Em cúi đầu đi mưa rơi
Những ngày ấy bao nhiêu thương xót
Tôi bước đi
không thấy phố
không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
trên màu cờ đỏ.
Đất nước khó khăn này
sao không thấm được vào thơ ?
Những tủ kính tôi dừng chân dán mũi
Các thứ hàng ế ẩm đợi người mua
Nhưng mà sách - hình như khá chạy
À quyển kia của bạn này - bạn ấy
Quyển của tôi tư lự nét đăm đăm
Nó đang mơ : - Nếu thêm cả miền Nam
Số độc giả sẽ tăng dăm bảy triệu
Tôi đã biến thành người định kiến
Tôi ước ao tất cả mọi người ta
Đòi thống nhất phải đòi từ việc nhỏ
- Từ cái ăn
cái ngủ
chuyện riêng tư
- Từ suy nghĩ
nựng con
và tán vợ.
Trời mưa mãi lây rây đường phố
Về Bắc Nam tôi chưa viết chút nào
Tôi vẫn quyết Thơ phải khua bão gió
Nhưng hôm nay
tôi bỗng cúi đầu
Thơ nó đi đâu ?
Sao những vần thơ
Chúng không chuyển, không xoay trời đất ?
Sao chúng không chắp được cõi bờ ?
Non nước sụt sùi mưa
Tôi muốn bỏ thơ
làm việc khác
Nhưng hôm nay tôi mê mải giữa trời mưa
Chút tài mọn
tôi làm thơ chính trị.
Tôi bước đi
không thấy phố
không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
trên màu cờ đỏ.
Em ơi ! - Ta ở phố Sinh Từ
Em đương có chuyện gì vui hử ?
À cái tin trên báo - ừ em ạ
Chúng đang phải dậm chân đấm ngực !
Vượt qua đầu chúng nó,
mọi thứ hàng
Những tấn gạo vẫn vượt đi
Những tấn thư, tài liệu
Vẫn xéo qua đầu chúng, giới danh gì ?
Ý muốn dân ta
là lực sĩ khổng lồ
Đè cổ chúng mà xóa nhòa giới tuyến
Dân ta muốn trời kia cũng chuyển
Nhưng
Trời mưa to lụt cả gian nhà :
Em tất tả che mưa cản gió
Con chó mực nghe mưa là rú
Tiếng nó lâu nay như khản em à
Thương nó nhỉ - Nó gầy - Lông xấu quá
Nó thiếu ăn - Hay là giết đi ư ?
Nó đỡ khổ - Cả em đỡ khổ.
Em thương nó - Ừ thôi chuyện đó
Nhưng hôm nay em mới nghĩ ra
Anh đã biến thành người định kiến
Những ngày ấy bao nhiêu thương xót
Tôi bước đi
không thấy phố
không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
trên màu cờ đỏ.
Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc
Tai bỗng nghe những tiếng thì thầm
Tiếng người nói xen tiếng đời ầm ã
- Chúng phá hiệp thương
- Liệu có hiệp thương
- Liệu có tuyển cử
- Liệu tổng hay chẳng tổng ?
- Liệu đúng kì hay chậm vài năm ?
Những câu hỏi đi giữa đời lỏng chỏng.
Ôi xưa nay Người vẫn thiếu tin Người
Người vẫn thường kinh hoảng trước Tương lai
Người quên mất Mỹ là sư tử giấy.
Người vẫn vội - Người chưa kiên nhẫn mấy
Gan người ta chưa phải đúng công nông
Người chửa có dạ lim trí sắt
Người mở to đôi mắt mà trông !
A tiếng kèn vang
quân đội anh hùng
Biển súng
rừng lê
bạt ngàn con mắt
Quân ta đi tập trận về qua
Bóng cờ bay đỏ phố đỏ nhà...
Lá cờ ấy lá cờ bách thắng
Đoàn quân kia muôn trận chẳng sờn gan
Bao tháng năm đói rét nhọc nhằn
Từ đất dấy lên
là quân vô sản
Mỗi bước đi lại một bước trưởng thành
Thắng được chiến tranh
giữ được hòa bình
Giặc cũ chết - Lại lo giặc mới
Đoàn quân ấy kẻ thù sợ hãi
Chưa bao giờ làm mất bụng dân yêu
Dân ta ơi ! chiêm nghiệm đã nhiều
Ai có Lý ? Và ai có Lực ?
Tôi biết rõ đoàn quân sung sức ấy
Biết nhân dân
Biết Tổ Quốc Việt Nam này
Những con người từ ức triệu năm nay
Không biết nhục
Không biết thua
Không biết sợ !
Hôm nay
Cả nước chỉ có một lời hô
THỐNG NHẤT
Chúng ta tin khẩu hiệu ta đòi
- Giả miền Nam !
Tôi ngửa mặt lên trời
Kêu một tiếng - Bỗng máu trời rơi xuống
Vài ba tia máu đỏ rớt vào tôi
Dân ta ơi !
Những tiếng ta hô
Có sức đâm trời chảy máu.
Không địch nào cưỡng nổi ý ta
Chúng ta đi - Như quả đất khổng lồ
Hiền hậu lắm - Nhưng mà đi quả quyết...
Hôm nay
Những vần thơ tôi viết
Đã giống lưỡi lê : Đâm
Giống viên đạn : Xé
Giống bão mưa : Gào
Giống tình yêu : Thắm
Tôi thường tin ở cuộc đấu tranh đây
Cả nước đã bầu tôi toàn phiếu
Tôi là người vô địch của lòng tin
Sao bỗng hôm nay,
tôi cúi mặt trước đèn ?
Gian nhà vắng chuột đêm nó rúc.
Biết bao nhiêu lo lắng hiện hình ra.
Hừ ! Chúng đã biến thành tảng đá
chặn đường ta !
Em ơi thế ra
Người tin tưởng nhất như anh
vẫn có phút giây ngờ vực
Ai có lý ? Và ai có lực ?
Ai người tin ? Ai kẻ ngã lòng tin ?
Em ơi
Cuộc đấu tranh đây
Cả nước
Cả hoàn cầu
Cả mỗi người đêm ngủ vẫn lo âu
Có lẫn máu, có xót thương lao lực
Anh gạch xóa trang thơ hằn nét mực
Bỗng mặt anh nhìn thấy ! lạ lùng thay !
Tảng đá chặn đường này !
Muôn triệu con người
Muôn triệu bàn tay
Bật cả máu ẩy đá lăn xuống vực !
Anh đã nghĩ: Không có đường nào khác
Đem ngã lòng ra
Mà thống nhất Bắc Nam ư ?
Không không !
Đem sức gân ra !
Em ơi em !
Cái này đỏ lắm, gọi là TIM
Anh dành cho cuộc đấu tranh giành Thống Nhất

Thứ Tư, 7 tháng 11, 2007

Phạm Đình Chương

Anh đi chắc hẳn anh còn nhớ, đôi mắt u uẩn chiều tiễn đưa.
Của người em nhỏ thơ ngây quá, chưa biết cười lên hẹn đợi chờ.


nhạc sĩ Phạm Đình Chương (PĐC) xuất thân từ một gia đình có thể nói là “royal family” của tân nhạc VN.

Thân phụ của ông là cụ Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của cụ sinh được 2 người con trai: Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm.

Phạm Đình Sỹ là một công chức, thỉnh thoảng lên sân khấu để đóng kịch tài tử cho vui nhưng vợ của ông là một nữ kịch sĩ tài hoa chuyên nghiệp: bà Kiều Hạnh. Bà còn nổi tiếng qua một tác phẩm khác của bà: nhóm Tuổi Xanh, từng đào tạo nhiều ca sĩ thiếu nhi thành những ca sĩ chuyên nghiệp cho miền Nam. Con của ông bà là ca sĩ Mai Hương hiện sống tại Mỹ.

Phạm Đình Viêm chính là ca sĩ Hoài Trung của ban hợp ca Thăng Long, một ban nhạc khởi sự hoạt động từ thời kháng chiến chống Pháp ở Liên Khu IV ngoài Bắc. Tháng 6 năm 1951, ban hợp ca Thăng Long đến với “nắng đẹp miền Nam” và kể từ đó họ làm mưa làm gió trên sân khấu văn nghệ miền Nam qua lối trình diễn có một không hai của họ.

Hoài Trung có tài bắt chước tiếng cầm thú. Khi nghe ban hợp ca Thăng Long trình bày những bài hát như “Ngựa Phi Đường Xa”, (Lê Yên), “Sáng Rừng” (Phạm Đình Chương), nếu thỉnh thoảng bạn nghe tiếng ngựa hí, chim kêu thì đó là “tiếng kêu” của Hoài Trung dấy.

Dòng vợ sau của cụ Phạm Đình Phụng có 3 người con: trưởng nữ là Phạm thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy, người con gái út là Phạm thị Băng Thanh, tức ca sĩ Thái Thanh một thời là vợ của đệ nhất nam minh tinh điện ảnh Lê Quỳnh (cha của ca sĩ Ý Lan, Quỳnh Hương). Còn người con trai giữa chính là nhạc sĩ Phạm Đình Chương.


PĐC còn là ca sĩ Hoài Bắc, linh hồn của ban hợp ca Thăng Long. Những thành viên khác của ban hợp ca như: NS Phạm Duy, Thái Hằng, Thái Thanh, Hoài Trung, Khánh Ngọc (vợ PĐC) có thể vắng mặt hẳn hoặc thay thế nhưng ca sĩ Hoài Bắc thì không thể thay thế được.

PĐC sinh năm 1929 (có tài liệu ghi năm 1930). Ông được nhiều người chỉ dẫn nhạc lý nhưng phần lớn vẫn là tự học. Ngoài tài ca hát, PĐC còn được xem là một nhạc sĩ tài ba đồng thế hệ với Phạm Duy, Hoàng Trọng, Hoàng Thi Thơ, Văn Phụng, Ngọc Bích, Nguyễn Hiền v.v…

Như bao nhiêu chàng trai yêu nước khác, ông theo kháng chiến chống Pháp ngay từ lúc ban đầu. Bốn anh em Phạm Đình Viêm, Phạm thị Quang Thái, Phạm Đình Chương và Phạm thị Băng Thanh đều gia nhập ban văn nghệ Quân đội ở Liên Khu IV.

PĐC bắt đầu sáng tác trong thời gian theo kháng chiến. Lúc ấy ông chỉ mới 18 tuổi. Những bài ca ra đời trong giai đoạn này là loại nhạc hùng tráng như “Ra Đi Khi Trời Vừa Sáng”, “Hò Leo Núi”, v.v….


Khi thấy Việt Minh bắt đầu lộ bộ mặt CS, ông “dinh tê” về thành rồi theo anh em vào Nam giữa 1951. Những sáng tác của ông trong giai đoạn này là những bài mang âm hưởng dân ca miền Bắc ca tụng cái đẹp của thôn quê như “Khúc Giao Duyên”, “Thằng Cuội”, “Được Mùa”, “Tiếng Dân Chài” như muốn nói lên tâm trạng hoài cố quận của mình.

Cuối thập niên 50, qua ban hợp ca Thăng Long, giới yêu nhạc miền Nam được biết và yêu thích những sáng tác của ông như ”Xóm Đêm”, “Đợi Chờ”, “Ly Rượu Mừng”, “Đón Xuân”, v.v…


Sau khi cuộc hôn nhân với ca sĩ Khánh Ngọc tan vỡ, ông bắt đầu sáng tác tình ca. Ông đem tâm trạng đau thương vào những bài nhạc tình da diết, đau nhức, buốt giá tâm can như “Đêm Cuối Cùng”, “Thuở Ban Đầu”.

Nhạc tình của ông là những tình khúc tuyệt vời dù không là những bài ca hạnh phúc. Nhiều nhạc sĩ sáng tác để nói về “tình” nhưng PĐC để “tình” nói hộ trong những tình khúc đau thương của mình.

“Đêm nay đêm cuối cùng gần nhau.
Lệ buồn rưng rưng, lời hát thương đau.
Nhịp bước bâng khuâng ngoài phố lạnh.
Giọt sầu rơi rớt hồn phiêu linh.
Nắm tay không rời
Cố hé run run môi cười.
Lúc chia tay bên trời tiếc thương.
Em ơi đêm cuối cùng gần nhau.
Hẹn rằng một ngày mai nối mộng ban đầu.
Em ơi đừng khóc sầu chia ly.
Vì lệ tuôn rơi làm héo xuân thì.
Dù đêm sâu như hồn chúng mình
Dù quan san cách trở mong manh.
Hãy tin một niềm
Nỗi nhớ nhung xưa ven tuyền.
Sẽ cho ngày về thắm duyên.
Em ơi đêm cuối cùng gần nhau.
Sợ rằng một ngày mai giấc mộng không thành"

(Đêm Cuối Cùng)



Phải nói là ông có biệt tài phổ thơ thành nhạc. Ngoài bài “Mộng Dưới Hoa” nói trên, ông đã đưa nét nhạc bi thiết vào những bài thơ như “Màu Kỷ Niệm” (thơ Nguyên Sa), “Nửa Hồn Thương Đau” (thơ Thanh Tâm Tuyền), “Người Đi Qua Đời Tôi” (thơ Trần Dạ Từ), “Đôi Mắt Người Sơn Tây” (thơ Quang Dũng), “Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội” (thơ Hoàng Anh Tuấn), “Đêm Màu Hồng” (thơ Thanh Tâm Tuyền), để trở thành những tình khúc bất tử.

Đây là những bài hát có nhiều chuyển cung rất hay lạ và Thái Thanh đã làm cho khách phòng trà phải nín thở mỗi khi nghe cô hát. Thuở ấy, Thái Thanh và ban hợp ca Thăng Long thường trình diễn tại phòng trà “Đêm Màu Hồng” (tên bài thơ của TTT) ở đường Nguyễn Huệ, Saigon. Ca sĩ Hoài Bắc thỉnh thoảng vẫn đơn ca tại đây.

Ông có giọng trầm và dội, nhừa nhựa như phảng phất men rượu và khói thuốc nên càng thêm gợi cảm. Nếu bạn có dịp nghe ông hát trong một quán rượu về khuya, tay cầm ly rượu và điếu thuốc nghi ngút khói, hát một mình bằng một giọng hát ngỡ như khét lẹt vì khói thuốc nhưng lại được dập tắt bởi rượu và ngoài kia tiếng súng xa vọng về, lúc đó bạn mới cảm được cái hay độc đáo của giọng hát Hoài Bắc.

Tuy thế, khán giả vẫn thích nghe ông hát chung với ban hợp ca Thăng Long hay song ca với Hoài Trung hơn, nhất là bài ”Hàm Xôi Phá Xa” dí dỏm:
“Ối lạc rang
Mới mua nóng giòn
...
...
...
Lạc rang... lạc rang
Ai mua lạc rang
Nóng ngon thêm giòn"


Có lẽ đóng góp lớn nhất của ông cho nền tân nhạc Việt Nam là trường ca “Hội Trùng Dương” sáng tác trong thập niên 60 gồm ba ca khúc “Tiếng Sông Hồng”, “Tiếng Sông Hương” và “Tiếng Sông Cửu Long”.

Ta có thể kể hàng trăm bài hát ngợi ca tình yêu quê hương, thương mến đất nước trong gia tài nhạc Việt nhưng không gì hùng vĩ, hoành tráng và ý nghĩa bằng trường ca “Hòn Vọng Phu” của Lê Thương, “Con Đường Cái Quan” của Phạm Duy và “Hội Trùng Dương” của Phạm Đình Chương.

Ông mất năm 1993 tại California, Mỹ. Sự ra đi của nhạc sĩ Phạm Đình Chương là một mất mát lớn cho nền âm nhạc Việt Nam.
...

Con tằm đã nhả tơ cho đến sợi tơ cuối cùng. Và... những sợi tơ ấy giờ vẫn còn sáng ngời lắm, rực rỡ lắm, lấp lánh lắm.

Thắp nén hương lòng này kính dâng hương hồn nhạc sĩ

nguồn Đặc Trưng.net





Bến Tình Yêu

chèm chẹp, hê hê.

Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2007

Chán quá

Mấy đêm đang nằm, bỗng thấy người trôi đi. Choáng váng, đi khám lại hết điện não đồ, xét nghiệm máu thì ra bị thiểu năng tuần hoàn não. Nói nôm na là máu không lên não. Bệnh này như con nghiện. Mỗi ngày phải tiêm một ống thuốc hết 80 nghìn. Tiêm 10 ngày thì dứt một đợt. Kèm theo uống thuốc viên. Tay bác sĩ dặn chớ có nghĩ nhiều. Không làm nhiều thì còn được, chứ không nghĩ thì khó lắm. Cái đầu nó cứ luôn nghĩ chả bắt dừng được. Đêm đến nghĩ đến nằm là sợ, sợ cái cảm giác nửa đêm thấy quay cuồng, buốt óc, chóng mặt.

Nếu mà máu không lên não, liệu mình có ngu đi không nhỉ. Mình thấuy nhiều thắng ngớ ngẩn đi lại ngoài đường . Biết đâu mai thức dậy mình không biết gì nữa. Thành thằng điên thì sao?

Hom nay cò kè mua mấy cuốn sách, nó đòi 900 nghìn. Mình trả 800 nó không bán. He đành đợi xem nó có xuống nước không vậy

Thứ Tư, 31 tháng 10, 2007

Vì mình quên nhân dân

Thời gian thấm thoắt thoi đưa, bác Hồ chết cũng đã mấy chục năm. Bây giờ chả còn ai nhớ lời bác dạy nữa. Chú công an của chúng ta năm xưa mái tóc đã lấm chấm điểm bạc, chú đã lên chức đồn trưởng. Nghe đồn thì chú phải bỏ ra 5 nghìn Mỹ Kim để mua chức vụ này cộng với mấy năm đi học tại chức. Các con chú đã lớn, vợ chú bây giờ có sạp hàng bán bánh kẹo ở phố H. Chú mua được cái nhà ở Phan...đứa con gái lớn đi du học bên Nhật. Còn cậu con trai chú đã đào tạo nó thành một cảnh sát, nhờ quen biết anh em trong ngành. Chú xin cho nó về làm cảnh sát giao thông trong thành phố, tuy là cùng ngành nhưng chú bỏ tiền lo lót cũng vài nghìn Mỹ Kim. Khổ cái thân chú phải lo lắng nhiều đến kinh tế như thế. Đến trăm thứ tiền đổ lên đầu chú. Tuy nhiên chú vẫn mẫn cán làm việc. Địa bàn chú quản lý rất phức tạp, có nguyên một phố nhà nhà bán ma tuý, bọn nghiệp đi lại rầm rập suốt ngày đêm như hành quân. Chúng phê thuốc đứng ngay giữa đường vạch quần đái, mắt nhằm nghiền. đái xong ngồi ngủ ngay tại chỗ. Đứa thì quờ quạng hai tay khua trước mặt như thằng mù dò đường. Bởi vậy chú năng đi tuần , các ngóch ngách , ngõ hẻm, từng cái cửa sổ , nơi nào có cầu thang, bờ tường thông nhau chú đều biết rõ chính xác như nhà chú vậy.Nhưng bọn bán ma tuý không vừa, chú xuất hiện bao giờ cũng chậm hơn chúng một ít, khi chú vào đến nơi thì chẳng còn cái gì. Chắc chú già rồi, tác phong lề mề. Chú lại còn đứng ở sân hỏi to tướng về người này, người kia. Sau đó chú mới rón rén leo lên cầu thang, trèo qua cửa sổ sang mái ngói nhà bên. Chú nhảy vào hành lang chạy uỳnh uỵch xô cửa. Vào đến nơi chỉ thấy khuôn mặt chủ nhà ngỡ ngàng nhìn chú, rồi họ mời chú uống nước. Chú ra cái đều bực bội không uống. Lúc này lính của chú theo đường chính mới vào nhà. Tất cả đều tiu nghỉu vì vô tang chứng. Hôm sau chú ngồi uống cà phê ở một quán rất vắng xa địa bàn chú quản lý. Chủ nhà kia bỗng dưng xuất hiện cạnh chú, họ thì thầm với nhau. Lát sau chủ nhà ra về, chú còn dặn nhỏ

- Cẩn thật nhé, đợt này trên chỉ đạo làm gắt lắm

Chú nhìn tách cà phê uống dở ngẫm nghĩ, làm gì để uống nốt chỗ cà phê này. Tính chú tiết kiệm là vậy, uống cà phê để suy nghĩ. Mà cà phê vẫn còn chú chưa nghĩ ra việc gì để uống nốt chỗ dở. Thế là chú nghĩ đến mụ chủ đề. Chú nhấc máy alo gọi mụ đến

Mụ chú đề đến ngay, mụ xởi lởi chào chú. Chú hỏi han gia đình nhà mụ, rồi trâm ngâm đốt thuốc lá 555. chú suy tư vấn dề hệ trọng lắm. Vầng trán của chú nhăn lại, có thể chú đang quyết định việc hệ trọng như củng cố chứng cứ, hay hành động để tống cổ kẻ nào phạm pháp vào tù. Góp phần trong sạch cho xã hội. Mụ chủ đề lo ngay ngáy nhìn diễn biến trên mặt chú, bỗng mụ chột dạ nghĩ- khéo ông ấy tính kế bắt mình cũng nên- Mụ vội vàng giở túi xách lấy ra mấy tờ 100 Mỹ Kim, ngó quanh không thấy ai. Mụ nhét vào túi chú nói

- Anh cầm ít tiền trả tiền cà phê.

Chú mặc kệ cho mụ ấy nhét tiền vào túi, bây giờ chú quen với việc này rồi. Không ngại ngùng như mấy chục năm về trước nữa. Chú bảo với mụ chủ đề

- Tiền này bà cho, tôi chỉ uống cà phê thôi đấy nhé.

- À vâng vâng, anh gọi vội quá em đang đi lễ, đến luôn. Có gì mai em gặp anh.

Mụ chủ đề vội thật, lên chẳng chuẩn bị gì. Mụ hiểu là mấy trăm Mỹ Kim của mụ cũng chỉ là tiền cà phê thôi, chưa xoá được hết nếp nhăn trên trán chú. Cho nên hôm sau mụ ra hàng bánh kẹo của vợ chú mua mấy hộp bánh. Có vài hộp bánh mà mụ trả nhầm thế nào đến chục tờ 100 Mỹ Kim. Hay là mụ ấy số má tính toán nhiều quá lên lầm lẫn. Vợ chú cũng vô tâm, trả kiểm gì cả cứ thế nhét vào ngăn kéo. Về nàh mụ ấy cũng chẳng kêu nhầm tiền mặt vẫn như không, còn vợ chú cũng bình thường chả biết là mình hôm nay bán mấy hộp bánh đến 1000 Mỹ Kim. Hay là nhìn nhầm chứ họ mua bán như thế, nhầm làm sao đến 1000 mà người thiệt không buồn, người lợi không vui.

Đấy là chuyện hôm sau, còn quay lại chú công an uống xong tách cà phê. Chú gọi đồng đội đến kiểm tra hành chính quán Karaoke trước. Chú ra mua tờ báo rồi đến sau. Đến quan Karaoke thuộc cấp của chú báo rằng mấy tiếp viên ở đây không có hợp đồng lao động, không có khai báo tạm trú, tạm vắng. Âm thanh thì ồn ào ảnh hưởng đến bà con, nhân dân lao động chung quanh. Họ đề nghị tịch thu tạm thời giấy phép, đình chỉ hoạt động chờ biện pháp xử lý. Chú căng thẳng lắm, mặt chú đanh lại. Nhưng sau vì bảnchất chú hiền lành, thương người. Thôi thì người ta cũng là kinh doanh, làm ăn. Đôi khi cũng thế này, thế nọ. Chỉ nhắc nhở, cảnh cáo để lần sau họ chú ý chấp hành pháp luật chứ nỡ lòng nào triệt đường làm ăn của họ. Chú cho quân về đi bắt bọn bán rong

Bọn bán rong này ở quê ra, chả biết điều gì cả, lấn chiếm lòng đường, vỉa hè. Quân của chú nhanh nhẹn như biệt kích nhảy xuống ô tô. Nhoáng cái đã tóm gọn cả quang gánh, xe thồ vất lên xe. Mặc cho bọn bán rong kêu gào , van xin thảm thiết. Loạn cả phố xá, mà loạn thế càng tốt. Nhân dân càng được chứng kiến các chú tậm tâm làm việc, xứng với đồng thuế họ đóng để trả lương các chú